Mô hình định giá tài sản vốn (Capital Asset Pricing Model – CAPM) là gì? Các ứng dụng và hạn chế của mô hình.

Pinterest LinkedIn Tumblr +

I. Khái niệm về mô hình định giá tài sản vốn (CAPM)

Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) là viết tắt của cụm từ capital asset pricing model .

Mô hình định giá tài sản vốn mô tả mối quan hệ giữa rủi ro hệ thống và lợi nhuận kỳ vọng của tài sản, đặc biệt là cổ phiếu.

Trong đó, rủi ro hệ thống là rủi ro xảy ra ở toàn bộ thị trường hay một phân khúc nào đó của thị trường. Loại rủi ro này không thể dự đoán và tránh hoàn toàn được như việc thay đổi chính sách của chính phủ, bão lụt, hạn hán,…

II. Công thức thể hiện mô hình định giá tài sản vốn

KE = Rf + β x (RM – Rf)

Trong đó:

  • KE: Chi phí sử dụng vốn cổ phần (hay tỷ suất sinh lời đòi hỏi của nhà đầu tư đối với cổ phiếu).
  • Rf: Tỷ suất sinh lời phi rủi ro (thường được tính bằng lãi suất trái phiếu Chính phủ).
  • RM: Tỷ suất sinh lời kỳ vọng của thị trường.
  • β: Hệ số rủi ro cổ phiếu (đo lường tương quan giữa sự biến thiên suất sinh lợi của cổ phiếu công ty với suất sinh lợi của danh mục thị trường).

Chú ý: 

β = 1 Biến thiên bằng thị trường, rủi ro bằng mức trung bình của thị trường
β < 1 rủi ro thấp hơn mức trung bình của thị trường
β > 1 rủi ro cao hơn trung bình của thị trường

 

III. Ứng dụng và hạn chế của mô hình định giá tài sản vốn.

 Ứng dụng và hạn chế của mô hình định giá tài sản vốn

Ảnh minh họa ứng dụng và hạn chế của mô hình định giá tài sản vốn. Nguồn: Canva

1. Ứng dụng của mô hình trong đầu tư:

– Giúp nhà đầu tư ước tính mức lợi nhuận kỳ vọng đặt ra

– Đánh giá hiệu quả danh mục đầu tư

– Giúp nhà đầu tư đưa ra các quyết định về lựa chọn cổ phiếu

– Xây dựng danh mục đầu tư

2. Hạn chế của mô hình

a. Hạn chế về lý thuyết

– Mô hình một yếu tố: Chỉ số rủi ro hệ thống trong mô hình CAPM được đáng giá bằng hệ số β. Trong khi sự biến động của các khoản đầu tư chịu ảnh hưởng của rất nhiều rủi ro khác.

– Mô hình một giai đoạn: mô hình CAPM là mô hình một giai đoạn. Do đó, nhà đầu tư không thể nắm bắt các yếu tố thay đổi ở các kì tiếp theo.

b. Hạn chế trong quá trình ứng dụng

– Danh mục đầu tư: danh mục đầu tư theo mô hình CAPM bao gồm tất cả các tài sản (tài sản tài chính và phi tài chính). Nghĩa là nó cũng bao gồm nhiều tài sản không thể đầu tư, như nguồn vốn về con người và tài sản trong các nền kinh tế đóng.

– Vấn đề ủy thác đầu tư: khi nhà đầu tư ủy thác đầu tư, các nhà phân tích khác nhau, các quốc gia khác nhau sẽ tạo ra lợi nhuận kỳ vọng khác nhau cho cùng một tài sản. 

 – Ước tính hệ số rủi ro beta: nhà đầu tư cần có dữ liệu về lợi nhuận qua các năm (từ ba đến năm năm) để ước tính rủi ro beta. Ngoài ra, mô hình sử dụng các giai đoạn khác nhau để ước tính kết quả trong các ước tính beta khác nhau.

Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) là một trong những đổi mới quan trọng nhất trong lý thuyết danh mục đầu tư. Mô hình giới thiệu bởi William Sharpe vào năm 1960 và được ứng dụng rất nhiều trong thực tiễn. Tuy nhiên các nhà đầu tư cần nghiên cứu kĩ, nắm rõ các ứng dụng và hạn chế của mô hình để tránh những sai lầm khi đưa ra các quyết định đầu tư.

Bài viết sử dụng thông tin từ VietnamBiz và Govalue.vn

Xuân Hòa

Share.

About Author

Leave A Reply

%d bloggers like this: